Vietnamen’s Weblog

Time, Chances, Diligence, Intelligence: which is the most important?

Archive for Tháng Một 2008

Dùng XP để truy cập file chia sẻ từ Vista

leave a comment »

Tôi là một người mới chuyển sang Vista cho cai PC của mình. Dùng laptop cài XP để truy xuất shared folder là một vấn đề mà tôi gặp phải. Sau đây là kĩ thuật mà tôi sưu tầm.

– Right-click vào Properties của Folder muốn chia sẻ trong Vista

– Vào tab Sharing

– Chọn Advanced Sharing

+ Gỡ bỏ lựa chon “Authenticated users” (nếu có)

+ Ở mục Permission, click vào rồi chọn Advanced, tiếp đến nhấn Find để hiển thị moi account và chon thêm vào “Everyone” để cấp phép.

Tham khảo:

http://www.pcadvisor.co.uk/forums/index.cfm?action=showthread&threadid=312179&forumid=1

Written by vietnamen

Tháng Một 15, 2008 at 4:56 chiều

Posted in Không phân loại

‘60% tiến sỹ Mỹ không hơn tiến sỹ Việt Nam’ – Một nhận định có cẩu thả???

leave a comment »

Sau đây là bài viết của bạn Nguyễn Đa Linh nào đó làm tiến sĩ về Kinh tế bên Mỹ. Liệu nhận định của bạn Linh dựa trên cơ sở gì không, chúng ta hãy nhận xét.

Nguyễn Đa Linh, nghiên cứu sinh Kinh tế tại Mỹ  tham gia ý kiến về Giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu và phát triển.

60% tiến sỹ Mỹ chất lượng cũng không hơn gì tiến sỹ Việt Nam?

a
Ảnh: Lê Anh Dũng

Nghiên cứu và phát triển đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia để tạo ra sản phẩm/dịch vụ mới và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế.

Về chất lượng nghiên cứu, rất nhiều ý kiến yêu cầu công trình nghiên cứu (bao gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng), đặc biệt là công trình của các nghiên cứu sinh trong nước phải được đăng trên các tạp chí quốc tế. 

Tuy nhiên, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa nhu cầu về chất lượng công trình nghiên cứunhu cầu về số lượng tiến sỹ. Theo ước tính của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020, Việt Nam cần đào tạo mới hai vạn tiến sỹ, (đa phần được đào tạo trong nước), để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nền kinh tế.

Nếu áp đặt một tiêu chuẩn gay gắt về chất lượng thì sẽ không thể đáp ứng đủ số lượng. Bởi lẽ (i) hai vạn là một con số rất lớn (Từ 1954 đến nay, cả nước ta mới có khoảng một vạn tiến sỹ); (ii) số người đăng ký học tiến sỹ sẽ giảm đi rất nhiều; (iii) cần số tiền đầu tư cực lớn để có số lượng bài báo quốc tế tương ứng.

Trên thực tế, ngay ở các nước phát triển, đào tạo tiến sỹ chủ yếu để phục vụ công tác giảng dạy và tham gia vào các hoạt động ở khu vực công nghiệp, để đảm nhận các công việc không đòi hỏi những nghiên cứu chất lượng cao. Chỉ một phần trong số đó sẽ trở thành các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp.

Ở Mỹ, mỗi ngành khoa học có khoảng 500 trường có đào tạo hệ Tiến sỹ, nhưng chỉ khoảng 200 trong số đó yêu cầu luận văn nghiên cứu đạt chất lượng tầm cỡ quốc tế. Có nghĩa là khoảng 60% tiến sỹ Mỹ chất lượng cũng không hơn gì tiến sỹ Việt Nam. Ngay trong số 200 trường đầu tiên này, không phải các tiến sỹ ra trường đều có bài đăng tạp chí quốc tế. 

Điển hình như ngành kinh tế, mặc dù Mỹ chiếm đa số các giải Nobel kinh tế và trong số 50 trường đại học hàng đầu về kinh tế, có đến 35 trường của Mỹ, nhưng nhiều sinh viên của các trường top 35 này cho đến khi nhận bằng tốt nghiệp cũng chưa có bài báo nào trên các tạp chí uy tín (Các tạp chí ít uy tín thì tôi không dám bình luận bởi vì chất lượng cũng vô cùng).

Hầu hết công trình của nghiên cứu sinh tốt nghiệp từ 200 trường hàng đầu mới chỉ là tài liệu lưu hành trên Internet và đạt tiêu chuẩn cấp trường.

Tuy nhiên, dù chưa được chấp nhận xuất bản tại các tạp chí uy tín, các công trình cấp trường này cũng rất hữu ích, đóng góp không nhỏ vào các công trình sâu sắc và quy mô hơn của những người kế tiếp. (Đây chỉ là những kinh nghiệm về ngành kinh tế mà tôi biết. Việc xuất bản ở một số ngành khác có thể dễ dàng hơn).

Một quốc gia chưa có trường đại học nào nằm trong top 500 của thế giới, đầu tư cho nghiên cứu  thấp như Việt Nam, mà đòi hỏi chất lượng tiến sỹ quốc tế đại trà là điều bất hợp lý.

Chính vì vậy, chỉ nên yêu cầu bắt buộc chất lượng quốc tế đối với: (i) các công trình nghiên cứu được đầu tư thoả đáng hoặc (ii) để bổ nhiệm các chức danh đặc biệt (trưởng khoa, phòng, bộ môn, phó giáo sư, giáo sư.v.v…).

Việc xác định thế nào là đầu tư thoả đáng tuỳ thuộc vào từng đề án cụ thể. Những nghiên cứu ngoài ngân sách Nhà nước, hoặc với đầu tư thấp như đào tạo tiến sỹ trong nước hiện nay chỉ nên khuyến khích xuất bản quốc tế, chứ không thể ép buộc.

8 đề xuất

1. Chương trình quốc gia về Nghiên cứu và Phát triển khoa học cần đề ra các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn dựa trên tiêu chuẩn Chỉ số quốc gia về ISI (Institute for Scientific Information). 

2. Quản lý số công trình chất lượng quốc tế theo cơ quanđề tài nghiên cứu chứ không theo cá nhân làm nghiên cứu.

Ví dụ, hàng năm mỗi khoa/phòng ở các viện/trường/trung tâm nghiên cứu cần đăng ký số lượng xuất bản quốc tế theo kỳ hạn; ngắn hạn (trong vòng 1 năm) và trung hạn (2-5 năm). Số đăng ký này có thể hiệu chỉnh theo từng năm để phù hợp với tình hình thực tế. Nhà nước dựa trên cơ sở đó để phân bổ ngân sách.

Ngay cả trong trường hợp ngân sách không đủ, các cơ sở nghiên cứu lớn vẫn cần tự trang trải để thực hiện những yêu cầu tối thiểu về số công trình chất lượng quốc tế do bộ chủ quản quy định.

Ngược lại, các bộ chủ quản cần nhanh chóng xây dựng những chỉ tiêu tối thiểu về số xuất bản quốc tế này. Chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu bằng ngân sách cũng cần cam kết chất lượng của sản phẩm nghiên cứu theo tiêu chuẩn quốc tế. 

3. Đầu tư xây mới hoặc chỉ định một số khoa/phòng trở thành trung tâm nghiên cứu trọng điểm. Ở các khoa/phòng này, có thể yêu cầu chất lượng quốc tế đối với hầu hết các công trình nghiên cứu.

4. Nghiên cứu sinh trong nước hợp tác nghiên cứu với các trường/viện nước ngoài hoặc đăng ký tốt nghiệp với xuất bản quốc tế, cần được ưu tiên xét hỗ trợ một phần kinh phí.

5. Xây dựng tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo khoa, trường/viện/trung tâm, phó giáo sư, giáo sư… dựa trên số xuất bản quốc tế. Khuyến khích tuyển dụng những người có công trình chất lượng quốc tế vào các viện/trường/trung tâm nghiên cứu.

6. Loại bỏ yêu cầu học vị tiến sỹ ở các vị trí lãnh đạo không cần những hiểu biết sâu về chuyên môn.

7. Thư viện quốc gia và thư viện của các viện khoa học cần đăng ký tài khoản với các tạp chí trực tuyến chuyên ngành quan trọng trên thế giới với sự tham vấn của các chuyên gia từng ngành.

8. Thành lập Phòng Giám định chất lượng các công trình nghiên cứuCục Xúc tiến nghiên cứu, đổi mới & phát triển khoa học công nghệ.

Chi tiết về mục cuối cùng như sau:

Phòng Giám định chất lượng các công trình nghiên cứu

Đây là một mô hình phòng đăng ký thuộc Cục Sở hữu Công nghiệp, Bộ KHCN (hoặc Bộ GD&ĐT) nhằm giúp các nhà nghiên cứu khẳng định “thương hiệu quốc tế” của mình ngay tại Việt Nam, đồng thời giúp Nhà nước dễ dàng quản lý. Các cá nhân, tập thể có nhu cầu giám định chất lượng công trình nghiên cứu sẽ phải trả một khoản lệ phí đăng ký, nộp bản sao công trình dưới dạng điện tử, đường link tới tạp chí quốc tế hoặc một ấn phẩm gốc. Ấn bản điện tử và tên tạp chí quốc tế sẽ được công khai trên Internet để những người quan tâm dễ dàng kiểm tra, bình luận về chất lượng tạp chí. Sau khi các chuyên viên của phòng thẩm định khoảng 6-12 tháng, nếu không có những khiếu kiện đặc biệt, công trình sẽ chính thức được cấp giấy chứng nhận giám định. Chuyên gia của các ngành sẽ giúp phòng xây dựng danh mục phân hạng các tạp chí quốc tế. Các công trình nghiên cứu cấp trường ở các trường đại học uy tín quốc tế cũng được đăng ký ở đây.

Phòng cũng là nơi quản lý các bản đăng ký số công trình chất lượng quốc tế ngắn và dài hạn từ các cơ sở nghiên cứu. 

Trên cơ sở đó có thể rút ra một ngân hàng dữ liệu các nhà nghiên cứu có công trình quốc tế. Điều này sẽ góp phần tách bạch các nhà nghiên cứu thực với các nhà nghiên cứu trên danh nghĩa. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng các tiến sỹ Việt Nam tốt nghiệp ở các trường đại học uy tín ở nước ngoài cũng sẽ vui vẻ đăng ký chứng nhận chất lượng các công trình của mình, một khi họ muốn trở về làm việc tại Việt Nam.

Cục Xúc tiến nghiên cứu, đổi mới & phát triển khoa học công nghệ

Cục xúc tiến này nhằm hỗ trợ tạo ra thị trường các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ. Việc hỗ trợ có thể bao gồm: tìm kiếm nguồn vốn ngoài ngân sách, tìm đối tác nghiên cứu phát triển, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, tư vấn luật sở hữu trí tuệ, hội thảo, khảo sát và thăm quan, đầu tư triển vọng vào các SMEs, thành lập phòng thí nghiệm v.v… 

Mặc dù đã có một vài tổ chức có hoạt động hỗ trợ NC&PT nhưng chưa có một cơ quan tầm cỡ quốc gia nào chuyên trách về vấn đề này. Cục Xúc tiến NCĐM&PT KHCN cần độc lập với các trung tâm xúc tiến thương mại đang tồn tại để chuyên môn hoá hoạt động do đặc thù của các sản phẩm/dịch vụ kỹ thuật và công nghệ cao. Theo một nghiên cứu năm 2002 của tôi về Phát triển Thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam, một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho tiến độ phát triển TMĐT kém xa so với mục tiêu do Đề án quốc gia về TMĐT đề ra là việc giao cho Bộ Thương mại thực hiện đề án này. Các cán bộ thực hiện đề án thiếu những nền tảng cần thiết về công nghệ cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực thi. Bởi vậy, Cục Xúc tiến NCĐM&PT KHCN nên bao gồm những cán bộ có nền tảng đại học về kỹ thuật và công nghệ, đồng thời có năng khiếu về marketing và sau đó sẽ được đào tạo bổ xung về quản lý và marketing.

  • Nguyễn Đa Linh

Xem phản hồi gốc: http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/01/763848/

Written by vietnamen

Tháng Một 15, 2008 at 6:11 sáng

VEF – “Đường về Tổ quốc”

leave a comment »

(VietNamNet)Hội nghị thường niên lần thứ 5 của các nghiên cứu sinh và học giả Quỹ Giáo dục VN (VEF) vừa bế mạc ngày 6/1/2008 sau 4 ngày hoạt động sôi nổi.

Các nghiên cứu sinh và học giả VEF tại Hoa Kỳ. Ảnh: VEF
Các nghiên cứu sinh và học giả VEF tại Hoa Kỳ. Ảnh: VEF

Với chủ đề “Đường về Tổ quốc”, Hội nghị năm nay nhằm khuyến khíchtạo động lực cho các nghiên cứu sinh và học giả VEF trở về làm việc tại VN cũng như tạo cầu nối hợp tác với các tổ chức học thuật ở VN trong tương lai.GS.TS Võ Văn Tới, GĐ điều hành VEF khẳng định: “Thông qua các các nghiên cứu sinh và học giả VEF, cộng đồng học thuật tại Hoa Kỳ sẽ nhìn các ứng viên của VN với sự tin tưởng và coi đó là những ví dụ về chất lượng, cống hiến và thành công và vì lợi ích chung. Chúng tôi tự hào rằng VN không những khuyến khích và hỗ trợ các ứng viên học tập tại nước ngoài mà còn có những bước chuẩn bị và chào đón để họ quay trở lại VN.”Cũng tại Hội nghị lần này, VEF đã kêu gọi cộng đồng trí thức Hoa Kỳ và các nghiên cứu sinh, học giả VEF chia sẻ tri thức vào kho học liệu mở VN (VOCW) vừa ra mắt. VEF cũng ủng hộ VN xây dựng những trung tâm khoa học và công nghệ cao như Viện Nghiên cứu Phát triển.Sau lễ bế mạc Hội Nghiên cứu sinh và Học giả VEF (VEFFA) đã tổng kết các hoạt động trong năm 2009 và bầu ban đại diện mới. Trong năm tới, VEFFA sẽ tiếp tục phát triển dự án Quyên góp sách cho VN (Vietnam Book Drive) đã rất thành công trong năm qua và tham gia đẩy mạnh phát triển chương trình học liệu mở VN.

  • Lan Hương

http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/01/763001/

Written by vietnamen

Tháng Một 14, 2008 at 2:26 sáng

3 trò không làm xong tiến sĩ, cho thầy nghỉ 5 năm

leave a comment »

(VietNamNet) – Bỏ thi đầu vào và thay thế bằng hình thức phỏng vấn. Mỗi luận án phải có một bài báo đăng ở tạp chí uy tín nước ngoài. Mỗi suất làm tiến sĩ trong nước được hưởng tối thiểu 120 triệu đồng. Công khai danh mục các cán bộ khoa học có đủ khả năng hướng dẫn nghiên cứu sinh (NCS). Thầy hướng dẫn 3 nghiên cứu sinh mà không làm xong luận án thì cho dừng 5 năm.

Đây là những biện pháp mà Bộ GD-ĐT dự kiến thực hiện để chấn chỉnh công tác đào tạo tiến sĩ. Dưới đây là những thông tin mà Phó Vụ trưởng Vụ ĐH&Sau ĐH (Bộ GD-ĐT), Nguyễn Thị Lê Hương trao đổi với VietNamNet.

4 ngành không cần bài đăng trên tạp chí nước ngoài 

Bà Nguyễn Thị Lê Hương
Bà Nguyễn Thị Lê Hương

 – Thưa bà, Quy chế đào tạo tiến sĩ mới sắp tới sẽ có những thay đổi gì nổi bật?

Trong dự thảo Quy chế đào tạo tiến sĩ mới có nhiều điểm thay đổi khá cơ bản và sâu sắc, đáp ứng nguyên lý chung là nâng cao đánh giá đầu ra, đặc biệt quan tâm đến chất lượng luận án “ra lò”.

Cụ thể, mỗi luận án phải có ít nhất 1 bài báo đăng ở các tạp chí uy tín nước ngoài. Chỉ 4 ngành (Mỹ thuật, An Ninh, Quốc phòng và Khoa học Chính trị) không yêu cầu có bài đăng trên tạp chí quốc tế nhưng phải có nhiều bài được đăng tải trên các tạp chí trong nước. 

Đây là yêu cầu bắt buộc,có tính đột phá để nâng chất lượng luận án. Vấn đề này, cũng có nhiều ý kiến trái chiều nhưng tôi xin nói thêm là ở những tạp chí nước ngoài, họ có một chuẩn mực về hội đồng biên tập và phản biện. Còn các tạp chí ở Việt Nam, nhất là ngành khoa học xã hội và kinh tế, thường là cơ quan ngôn luận của một hội hoặc tổ chức nào đó, chứ không hẳn là một tạp chí khoa học nên nhiều khi chức năng phản biện rất hạn chế.

Điểm mới nữa là sẽ không còn tổ chức thi tuyển các môn chuyên ngành và ngoại ngữ “đầu vào” như trước. Vì thực tế, khi thi không thấy có ai trượt. Số người trượt chuyên môn cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khi đưa ra quy định mới này, chúng tôi đã khảo sát và nhận thấy chỉ cần xét qua nghiên cứu và phỏng vấn, hoàn toàn có thể đánh giá được năng lực của từng NCS.

Cùng với đó, ngân sách dành cho 1 NCS trong nước tối thiểu từ 110 triệu – 120 triệu đồng. Ngoài ra, sẽ có từ 3 – 6 tháng thực tập về lĩnh vực nghiên cứu ở nước ngoài. Chính sách này chỉ áp dụng cho những giảng viên làm luận án tiến sĩ. Đối với sinh viên làm NCS, nếu có cam kết sau khi tốt nghiệp sẽ về làm giảng viên các trường ĐH, cũng sẽ được thụ hưởng như vậy.

ĐH sẽ tự đặt quy chế

– Chuyển từ thi tuyển sang hình thức phỏng vấn, nhiều lo ngại rằng sẽ định tính nhiều hơn nên sẽ khó cho kết quả khách quan?

Việc làm luận án tiến sỹ gắn với trách nhiệm của người hướng dẫn. Trong quy chế mới, chúng tôi quy định rất chặt chẽ trách nhiệm của người hướng dẫn. Cụ thể: Các cơ sở đào tạo phải công khai danh sách cán bộ khoa học đủ năng lực hướng dẫn NCS và danh mục hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu… để NCS có thể chọn người hướng dẫn.

Nếu 2 NCS không hoàn thành luận án, thầy hướng dẫn phải tạm dừng để giải trình lý do. Nếu thêm NCS thứ 3 không hoàn thành luận án, thì thầy sẽ bị dừng hướng dẫn đến 5 năm.

– Thông thường, quy định ngay từ đầu không chặt sẽ là “kẽ hở” để lách đã từng xảy ra. Vậy tại sao đã xóa bỏ hình thức đào tạo không tập trung, lại còn xem xét “đặc cách” cho một số trường hợp?

Việc xem xét chỉ được thực hiện với những trường hợp là người của cơ sở đào tạo tiến sĩ. Do vậy, nếu không lên lớp học thì họ vẫn có mặt ở cơ sở…

Tới đây, sẽ không còn hình thức đào tạo tiến sĩ không tập trung mà buộc người học phải học tập trung. Chỉ một số trường hợp như người của cơ sở đào tạo tiến sĩ được xem xét học không tập trung. Lâu nay, việc đào tạo tiến sĩ không chất cũng một phần do 100% các cơ sở đào tạo không tập trung. 

– Với 100% các cơ sở chuyển sang tập trung như vậy thì có đủ nguồn giảng viên hay không và cơ sở vật chất đầu tư cho đào tạo sẽ có những biến đổi thế nào? Đặc biệt là điều kiện phòng ốc trang bị cho NCS làm nghiên cứu?  

Quy chế quy định rõ: Khi đào tạo tập trung, đội ngũ giảng viên phải đảm bảo tỷ lệ bao nhiêu, điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng ra sao… Một cơ sở có “tuổi đời” 30 năm không thể đặt vấn đề là không đủ điều kiện đáp ứng.

Mặt khác, các cơ sở tới đây sẽ được toàn quyền quyết định từ việc đào tạo đến cấp bằng. Do vậy, các cơ sở phải có chỗ làm việc cho NCS, tổ chức sinh hoạt, xêmina, lịch định kỳ tiếp NCS, kiểm soát toàn bộ quá trình hoạt động đào tạo

Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi cũng đã có khảo sát. Thực tế, nhiều cơ sở chưa có chỗ làm việc cho NCS mà thường bố trí ngồi cùng phòng với bộ môn. Do vậy, quy chế ban hành sẽ là quy định khung bắt buộc. Căn cứ vào đó, các cơ sở đào tạo tiến sĩ xây dựng cho mình quy chế phù hợp nhưng không được thấp hơn quy định khung do Bộ GD-ĐT ban hành. Lâu nay, các trường chưa có quy chế riêng nên việc thực hiện thường bị động. Nên để các trường tự đặt ra cho mình những quy định đào tạo phù hợp sẽ tạo được những cách triển khai mới, nâng cao chất lượng đào tạo.

Công khai danh mục nghiên cứu và thầy hướng dẫn

Trưng bày thành tựu đào tạo sau ĐH tại hội nghị tổng kết 30 b��c đào tạo này. Ảnh: Lê Anh Dũng
Trưng bày thành tựu đào tạo sau ĐH tại hội nghị tổng kết 30 bậc đào tạo này. Ảnh: Lê Anh Dũng

– Cũng không ít ý kiến cho rằng, vì nội dung đào tạo tiến sĩ của Việt Nam chỉ như “chương trình đào tạo cử nhân thu nhỏ” đã dẫn đến những hệ lụy rằng: NCS chẳng cần lên lớp, nghiên cứu chuyên môn… nhưng vẫn bảo vệ thành công luận án…

Chương trình đào tạo tiến sĩ tới đây sẽ được bổ sung một số môn học trình độ tiến sĩ. Đây vừa là thay đổi nhưng cũng là thách thức đối với các cơ sở đào tạo. Trong tuyển đầu vào, yêu cầu ngoại ngữ đối với NCS được nâng cao hơn đủ để tham khảo tài liệu. Tiếng Anh phải đạt điểm TOEFL 450 điểm.

Nói là chương trình cử nhân thu nhỏ không đúng. Bởi, chương trình đào tạo do các trường chủ động, nếu chưa đáp ứng nhu cầu là do cơ sở chưa đủ năng lực để xây dựng các chuyên đề, xêmina… Ở một số nước có tên tuổi trong đào tạo tiến sĩ thì chương trình học bao giờ cũng có một số môn học thêm. Do vậy, trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, người hướng dẫn… sẽ được quy định cụ thể để dần khắc phục những hạn chế trong đào tạo hiện nay.

– Trong đổi mới công tác đào tạo tiến sĩ tới đây, bà có đề cập đến việc công khai danh mục các cán bộ khoa học có đủ khả năng hướng dẫn NCS. Hình thức này sẽ được thực hiện thế nào?

Sẽ công khai trước mỗi kỳ tuyển sinh 3 tháng. Với đào tạo tiến sĩ mỗi năm có 2 đợt chiêu sinh vào cuối tháng 2 và tháng 8. Như vậy, đợt cuối tháng 2 thì những thông tin liên quan đến NCS sẽ công bố tháng 11; và đợt tháng 8 sẽ công bố vào tháng 5 trên trang web của Bộ GD-ĐT.

Thông tin công bố sẽ bao gồm: Danh mục các hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu hoặc đề tài nghiên cứu kèm theo danh sách các nhà khoa học có thể nhận hướng dẫn NCS, số lượng NCS có thể tiếp nhận ở từng hướng nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu…

Với những thông tin như vậy, NCS có thể lên web để chọn người hướng dẫn phù hợp.

Dự kiến, quy chế đào tạo tiến sĩ sẽ được ban hành tháng 1/2008. Thời gian cho các cơ sở xây dựng quy chế đào tạo từ 1-1,5 năm. Đến ngày 30/6/2009, các cơ sở đào tạo phải hoàn thành việc xây dựng chương trình tuyển sinh và tổ chức giảng dạy bổ sung các môn học theo chương trình mới cho NCS.

– Cảm ơn bà!

  • Kiều Oanh (thực hiện)

 http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/01/763357/

Written by vietnamen

Tháng Một 13, 2008 at 5:39 sáng

Đào tạo tiến sĩ: Chất lượng phụ thuộc vào người hướng dẫn?

leave a comment »

(VietNamNet) – Nâng cao chất lượng đào tạo nói chung cũng như nâng cao chất lượng đào tạo TS nói riêng cần được thực hiện đồng bộ ở các khâu, các ngành và các cấp. Việc viết báo có trọng lượng khoa học và uy tín để được đăng phụ thuộc nhiều vào người hướng dẫn. Thế nhưng các GS và PGS  hiện nay còn nhiều người yếu về ngoại ngữ và hình như còn thiếu “bài báo quốc tế”.

s

Tại hội nghị hiệu trưởng tháng 8/2006, Hiệu trưởng trường ĐH Đà Nẵng Bùi Văn Ga bức xúc: “Ở các nước, người ta tập trung đào tạo 3 năm ròng rã còn chưa được, trong khi ở ta chỉ đào tạo theo bán thời gian thì làm sao có chất lượng?”. (Ảnh: Hải Châu)

 

Xu thế chung là hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới đều qui định có bài báo đối với NCS, nên để theo kịp, chúng ta phải làm chặt khâu này. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên giới hạn ở một số tạp chí hoặc ở một mức nào đó (thông thường các tạp chí có thang điểm chuẩn riêng) để phù hợp với Việt Nam. Tôi chắc chắn nếu qui định này được áp dụng thì có đến quá nửa NCS hiện tại không đáp ứng được nhu cầu này, tuy nhiên Bộ GD đã mạnh tay với kì thi THPT thì đây cũng chính là phần tiếp theo của việc chống bệnh thành tích và tiêu cực.

 

Tôi đồng ý với một số ý kiến  về việc khó khăn khi viết và đăng trên tạp chí thế giới, tuy nhiên, nếu khó mà không làm thì chúng ta sẽ không bao giờ đi lên được. Về vấn đề này tôi xin có mấy ý kiến như sau:

 

Việc viết báo có trọng lượng khoa học và uy tín để được đăng phụ thuộc nhiều vào người hướng dẫn.

 Hiện nay, các GS và PGS của Việt Nam còn nhiều người yếu về ngoại ngữ và trình độ cũng như còn thiếu các bài báo quốc tế… Thực tế nhìn lại, cách phong học hàm PGS và GS nước ta chẳng giống ai cả, các công trình khoa học không được phân theo thang chuẩn, đánh đồng cả tạp chí thế giới bằng với tạp chí của một trường hoặc một cơ quan nào đó của Việt Nam. Dẫn đến việc nhiều tiến sỹ học ở nước ngoài về có nhiều công trình đăng trên các tạp chí uy tín thì lại không được phong học hàm vì trẻ quá. Vì vậy nên thế giới ít biết đến GS hay PGS của nước ta, nếu không tin, các bạn đưa danh mục PGS và GS nước ta lên mạng search xem có công trình nào? Chính vì vậy, Hội đồng phong GS Nhà nước cần có những thay đổi để phù hợp với xu thế của thế giới. Nếu không chúng ta lại vừa đá bóng vừa thổi còi.

 

Chi phí cho NCS trong nước hiện còn thấp, đặc biệt những hỗ trợ cho NCS đi học, tôi biết rất nhiều cơ quan trong nước của Việt Nam cử cán bộ trẻ đi học NCS chỉ với hỗ trợ lương 1 triệu đồng / tháng để sinh hoạt và học tập tại các thành phố lớn. Chúng ta đau lòng khi thấy hiện trạng này. Nếu như có những may mắn, chúng ta có những TS kiểu này bảo vệ luận án  có chất lượng thì cũng ốm yếu về thể xác mà thôi. Tôi nghĩ Bộ GD nên điều tra vấn đề này thật kỹ để kết hợp với các bộ, ngành khác cùng tìm cách giải quyết nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho NCS trong nước để họ sống được và chuyên tâm vào công tác nghiên cứu (đặc biệt là cán bộ trẻ). Hiện trạng hiện nay là rất nhiều NCS chọn phương thức đào tạo không tập trung để tranh thủ kiếm sống, hoặc lại chân trong chân ngoài. Đó cũng chính là lý do khiến công trình của NCS Việt Nam có hàm lượng khoa học thấp.

 

Nên đặt một chuẩn mực ngoại ngữ với NCS trước khi bảo vệ. Chuẩn mực ở đây là chuẩn quốc tế, ví dụ như tiếng Anh là TOEFL… Tất nhiên, chúng ta cũng nên xem xét với từng ngành cụ thể. Chúng ta đảm bảo rằng, TS trong nước sau khi tốt nghiệp sẽ vẫn có thể hướng dẫn NCS và viết bài báo quốc tế.

http://vietnamnet.vn/bandocviet/2008/01/763786/

Written by vietnamen

Tháng Một 13, 2008 at 5:28 sáng