Vietnamen’s Weblog

Time, Chances, Diligence, Intelligence: which is the most important?

Archive for Tháng Bảy 2008

Một số kinh nghiệm tránh bị lỗi trong Microsoft Word

leave a comment »

1. Error message:

  • The disk is full or too many files are open.”
  • Word cannot save or create this file. The disk may be full or write-protected. Try one or more of the following:
    *Free more memory.
    *Make sure that the disk you want to save the file on is not full, write-protected, or damaged.

Đây là thông báo lỗi dù PC của mình vẫn còn trống và dư rất nhiều memory. Theo kinh nghiệm thu thập được sau mấy ngày vật lộn, lỗi này xuất phát từ việc có quá nhiều “OLE embedded object”, mà cụ thể là file word chứa quá nhiều công thức toán.

Giải pháp để rút kinh nghiệm là:

* Khi biên soạn công thức, tránh tình trạng copy nguyên công thức dưới dạng object từ nơi này sang nơi khác. Mà hãy double-click vào công thức đó để open MathType window, tô đậm toàn bộ công thức rồi copy dưới dạng text. Sau đó, create new Equation và paste công thức đó vào.

* Khi thêm equation reference, thông thường MathType hay Word sẽ tiến hành qui trình scan toàn bộ file. Điều này cũng dễ gây ra lỗi “Error! Objects cannot be created from editing field codes.” Giải pháp tốt hơn là:

– nếu equation này lần đầu được tham chiếu, cut nguyên equation đó ra file mới, chọn tham chiếu đến equation đó, sau đó chép cả 2 vào lại vị trí cũ, chỉ việc tô đậm vùng text nhỏ chứa equation và tham chiếu rồi bấm F9. Tất cả sẽ được update công thức nhanh chóng, thay vì phải scan lại toàn bộ file.

– nếu equation này đã được tham chiếu ít nhất một lần rồi: công đoạn chỉ đơn giản là copy tham chiếu đó sang nơi cần tham chiếu lại.

Một giải pháp khác là chọn “open and repair” trong Word đối với file bị lỗi. MS Word sẽ sữa chữa các liên kết và cho phép ta lưu file lại, đồng thời chú ý tìm các OLE object bị lỗi (biểu thị bằng thông báo lỗi dạng text trong file là “Error! Objects cannot be created from editing field codes“) và tự chỉnh sửa bằng tay.

Giải pháp tốt nhất là chuyển sang MS Word 2007. Mọi lỗi đề cập đều không xảy ra 🙂

2. Error message:

  • Error! Objects cannot be created from editing field codes.

Giải pháp là right-click vào đoạn text trên, vào Equation – chọn Edit. Sau đó click chuột ra một nới khác. Equation sẽ được hồi phục.

Advertisements

Written by vietnamen

Tháng Bảy 29, 2008 at 3:57 sáng

Di truyền phân tử 5 – “discover the secret of life” DNA shape

leave a comment »

Trong các phần trước, ta đã biết phân tử DNA là nơi lưu giữ thông tin di truyền (nghĩa là chứa genes). DNA là một polymer, được tạo bởi các monomer là các nucleotides. Có 4 loại nucleotides: A, T, G, C. Mỗi gene là một đoạn DNA tạo bởi chuỗi các nucleotides nhưng vì chúng quá nhỏ, chưa có một kính hiển vi nào cho phép quan sát cấu trúc thực của một phân tử DNA. Vì thế, không ai biết các đơn phân nucleotides này sẽ kết hợp với nhau như thế nào để có thể mang một lượng lớn thông tin di truyền cần thiết để tạo ra một cá thể sống. Đó được gọi là bí ẩn của cuộc sống (the secret of life). Hay nói một cách chính xác là cấu trúc của DNA vẫn là một ẩn số vào thời điểm đó (1940s-1950s).

Vào thời điểm đó, các mô hình thực nghiệm hay lí thuyết được nhiều nhà khoa học đề ra về cấu trúc của DNA đều không chính xác. Như đã đề cập trong phần trước, dù Levene đã đúng khi cho rằng các nucleotide liên kết theo nguyên tắc đầu 5′ đến 3′ (đường-phosphate-đường-phosphate-…), nhưng quan điểm về lý thuyết “tetranucleotide block” của ông là một sai lầm. Và Chargaff đã chỉnh sửa khiếm khuyết đó với quan điểm số Adenine = số Thymine, số Guanine = số Cytosine (tỉ lệ A = T, G = C).

Vào thời điểm đó, một nhà khoa học khác tên là Linus Pauling dùng một kĩ thuật mới gọi là tinh thể học tia X (X-ray crystallography) để khám phá cấu trúc protein. Hình ảnh thu được từ kĩ thuật này là các mẫu nhiễu xạ (diffraction pattern), và bằng các kĩ thuật tính toán phức tạp nhờ máy tính có thể giúp xây dựng lại cấu trúc 3D của phân tử ở dạng tinh thể. Kết quả thành công thu được cho thấy viễn cảnh có thể dùng kĩ thuật X-ray crystallography để xem xét cấu trúc của DNA. Tuy nhiên, không dựa vào thực nghiệm, WatsonCrick đưa ra những suy luận riêng của mình và xây dựng mô hình cấu trúc phân tử một cách trực quan dùng các que cùng các quả cầu nhỏ (stick-and-ball models) – mỗi quả cầu nhỏ đại diện cho một đơn phân.

stick-and-ball model of DNA structure
(stick-and-ball model)

Cấu trúc protein có dạng xoắn như cái mở nút chai (corkscrew-shaped structure) – hay còn gọi là alpha-helix (xoắn alpha)

Để kiểm chứng cho những suy luận của mình, Francis và Watson cùng dựa vào thông tin từ các mẫu nhiễu xạ để tìm lời giải cho cấu trúc của DNA. Và nhờ may mắn, họ đã có thể kiểm chứng được sự đúng đắn của mô hình đưa ra khi dựa vào hình ảnh các mẫu nhiễu xạ tia X sau khi chiếu vào phân tử DNA ở dạng muối (salt of DNA – thời đó chưa tạo được tinh thể DNA) nhờ vào kĩ thuật X-ray crystallography (Bức ảnh này gốc là do Rosalind Franklin chụp tại King’s College ở London, và Wilkins là người cung cấp cho Watson & Crick).

Vào thời đó, có 2 bức ảnh về mẫu nhiễu xạ của 2 sợi DNA khác nhau, đều do Rosalind Franklin và Maurice Wilkins chụp, xem ở hình sau. Franklin thì tập trung vào bức ảnh đầu do nó có vẻ phức tạp hơn và bà nghĩ nó có nhiều thông tin hơn, trong khi Wilkins thì chọn bức ảnh sau do tính đối xứng đơn giản của nó và bức ảnh này đã được đưa cho Watson & Crick xem để rồi họ đã có thể xác định tính chính xác của mô hình họ đưa ra.

(B form DNA taken by Rosalind Franklin, 1952)

Trong hình ảnh chụp X-ray crystallography, ta thấy một chữ X mờ (fuzzy ‘X’) ở giữa phân tử, đó là mẫu cho thấy cấu trúc xoắn ốc (helical structure). Vì số luợng nucleotides tuân theo tỉ lệ A = T, và G = C, Watson đã có thể đưa ra qui luật bắt cặp (base pairing), nghĩa là A luôn liên kết với T, G liên kết với C. Đồng thời ông còn phát hiện ra một điều quan trọng: chiều dài liên kết A-T bằng chính xác với chiều dài liên kết G-C. Nếu vậy, mỗi bậc thang trong chuỗi xoắn kép sẽ có chiều dài bằng nhau, và bộ khung đường-phosphate sẽ ổn định. Lập luận này càng được củng cố vì mẫu nhiễu xạ rất cân đối, chứng tỏ chiều xoắn ổn định, hay đường kính của ốc xoắn được giữ nguyên.

Nói tóm lại, James Watson và Francis Crick đã thành công với khám phá cấu trúc 3 chiều của một phân tử DNA: đó là chuỗi xoắn kép có dạng hình thang (ladder) cuộn vào nhau theo cùng 1 trục với các bậc thang (rungs of the ladder) chính là liên kết giữa các cặp bazơ chứa nitrogen (base pairing: A-T, G-C) ở 2 chuỗi. Hai đường thân của thang là luân phiên liên kết giữa gốc phosphate và phân tử đưởng deoxyribose theo chiều 5′-3′. Hướng xoắn là hướng đi lên theo qui tắc bàn tay phải (right-hand double helix) nên còn gọi là B-DNA. Một số nhà khoa học quan điểm tồn tại Z-DNA (hay left-hand twisted DNA) nhưng nó rất hiếm và chỉ là “in vivo” (tồn tại trong phòng TN). Tuy nhiên, số lượng bài báo sai lầm khi đề cập đến Z-DNA cũng không phải là ít và Tom Schneider tại NIH đã sưu tầm chúng tại http://www.lecb.ncifcrf.gov/~toms/LeftHanded.DNA.html.

Cấu trúc B-DNA

Cấu trúc B-DNA

James Watson và Francis Crick công bố kết quả trên Nature, chỉ nêu ra suy luận và không có bằng chứng thực nghiệm nào cả. Đồng thời, không có lời cảm ơn nào đối với Franklin và Wilkins ngoại trừ câu: “We have also been stimulated by a knowledge of the general nature of the unpublished results and ideas of Dr. M.H.F. Wilkins, Dr. R.E. Franklin, and their co-workers at King’s College London“. Frankiln chết do bệnh ung thư năm 1958, nên chỉ có 3 người nhận giải Nobel vào năm 1962 vì họ không trao cho người đã chết (posthumously).

triple_helix_DNA

(cấu trúc triple-helix do Pauling đề xuất)

Về phần nhà khoa học Pauling, sau khi khám phá ra cấu trúc của protein, Pauling cũng chú ý đến DNA, nhưng rất tiếc là cấu trúc ‘triple helix‘ của ông đưa ra không chính xác. ‘Triple helix’ nghĩa là 3 chuỗi xoắn xen kẽ vào nhau. Pauling cho gốc phosphate làm lõi (core) của mỗi chuỗi xoắn với các gốc nitrogen hướng ra ngoài, và 3 chuỗi xoắn sẽ cuộn vào nhau để làm thành phân tử DNA. Sai lầm của Pauling là quên rằng các nguyên tử Oxi trong gốc phosphate tích điện âm (), nên khi nằm ở giữa, và các gốc phosphate này chồng lên nhau, chúng sẽ đẩy nhau, không thể tạo ra một phân tử bền vững.

Sau này, Watson đóng vai trò quản lí dự án Human Genome Project, nhằm giải mã toàn bộ bộ gene của con người chứa trong human DNA.

TERM:

  • X-ray crystallography: tinh thể học tia X là kĩ thuật nhằm nghiên cứu cấu trúc 3 chiều của một phân tử bằng cách tạo ra tinh thể từ phân tử đó, sau đó dùng tia X chiếu vào và thu hỉnh ảnh nhiễu xạ của chúng. Sau đó, dùng máy tính để tính toán ra cấu trúc của phân tử dựa vào hình ảnh nhiễu xạ thu được.

SUMMARY:

Watson và Crick là 2 người đã phát hiện ra cấu trúc DNA. Cấu trúc phân tử DNA là chuỗi xoắn kép với chiều xoắn theo chiều tay phải, hay còn gọi là B-DNA. Z-DNA là thuật ngữ dùng để cấu trúc DNA xoắn theo chiều tay trái, nhưng thực tế không tồn tại, ngoại trừ trong môi trướng thí nghiệm.

ĐỌC THÊM:

X-ray crystallography

LINK:

  1. http://osulibrary.orst.edu/specialcollections/coll/pauling/dna/papers/msna-pg01-xl.html (liên kết đến bài báo của Watson-Crick)
  2. http://profiles.nlm.nih.gov/SC/B/B/Y/W/_/scbbyw.pdf (phiên bản PDF của bài báo tại Nature)
  3. http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/2804545.stm (giới thiệu về thành công của Watson-Crick)
  4. http://www.ba-education.demon.co.uk/for/science/dnamain.html (lược sử ra đời của phát hiện cấu trúc ADN)
  5. http://chemistry.library.wisc.edu/subject-guides/x-ray-crystallography.html (chứa các liên kết đầy đủ về database, online learning liên quan đến Tinh thể học tia X)
  6. http://www-structmed.cimr.cam.ac.uk/Course/Overview/Overview.html
  7. http://nobelprize.org/educational_games/medicine/dna_double_helix/readmore.html

Written by vietnamen

Tháng Bảy 8, 2008 at 6:09 sáng

Di truyền phân tử 4 – eukaryote vs. prokaryote

with 2 comments

Trong các phần trước, khi đề cập đến tế bào được dùng để nghiên cứu, chúng đều có nhân. Lớp các tế bào có nhân được gọi là eukaryotic cell (các cá thể có tế bào thuộc lớp này gọi là eukaryotes). Thực tế, còn tồn tại một lớp tế bào không nhân, gọi là prokaryotic cells (các cá thể có tế bào thuộc lớp này gọi là prokaryotes). Thông thường prokatyote là đơn bào (unicellular), nhưng cũng có ít trường hợp là đa bào (multicellular), ví dụ: myxobacteria.

Prokaryotes vs. Eukaryotes

Prokaryotes vs. Eukaryotes

Robert Hooke là người đầu phát hiện ra sự tồn tại của tế bào (1665). Tuy nhiên, đó là tế bào cây (khi quan sát cái nút chai rượu) đã chết; vì thế chúng không có tế bào chất (cytoplasm) nên dẫn đến nhân (nucleus) lúc đó cũng không còn. Vô hình chung nó được xem là tế bào không nhân. 10 năm sau, Anton van Leeuwenhoek (1632-1723), là người đầu tiên, dùng kính hiển vi, đã quan sát được vi khuẩn (bacteria) và động vật nguyên sinh (protozoa).

Bacteria

bacteria cell

Bacterial cell

Vi khuẩn là đơn bào và cũng là prokaryote. Như đã đề cập ở các phần trước, thông tin di truyền được tìm thấy bên trong nhân; nên có nghi vấn đặt ra là liệu vi khuẩn có thông tin di truyền không và nếu có thì chúng di truyền như thế nào?– Câu trả lời là có. Vi khuẩn có 2 phương thức sinh sản (để truyền thông tin di truyền): vô tính (bản thân vi khuẩn tự chia đôi tạo ra 2 vi khuẩn mới – quá trình binary fission), hữu tính (bacteria kết hợp lại và trao đổi thông tin di truyền qua 1 quá trình gọi là tiếp hợp ([bacterial] conjugation)). Sinh sản hữu tính ở vi khuẩn không có sự kết hợp giữa sperm và egg cells như với các eukaryotes, mà chỉ là trao đổi thông tin di truyền từ một vi khuẩn đực, gọi là (+), với vi khuẩn cái, gọi là (-).

Joshua Lederberg (năm 1945) đã tiến hành thí nghiệm trên vi khuẩn E.Coli. E.Coli có khả năng tự tổng hợp ra chất dinh dưỡng cần thiết cho nó, ví dụ: acids methionine (MET), proline (PRO), threonine (THR), vitamin biotin (BIO). Thầy của ông, Edward Tatum, đã tiến hành tạo ra 2 dòng vi khuẩn E.Coli đột biến riêng biệt, mỗi dòng từ duy nhất một tế bào vi khuẩn. Điều này đảm bảo là mọi bacteria của mỗi dòng đều có thông tin di truyền giống nhau.Mục tiêu của đột biến là mỗi dòng mất đi khả năng tổng hợp một số chất dinh dưỡng nào đó.Ví dụ: dòng 1 mất khả năng tổng hợp MET và BIO; dòng 2 mất khả năng tổng hợp PRO và THR. Điều đó có nghĩa là các dòng đột biến này không thể phát triển bình thường; đồng thời, dòng này thì có khả nằng tổng hợp ra các chất mà dòng kia thì không thể, và ngược lại.

Khi nuôi các dòng đột biến này trên dĩa có môi trường phù hợp (thường là agar + proteins, nên gọi là agar plates), các dòng này đều phát triển bình thường. Nhận thấy điều đó, Lederberg đã trộn hai dòng đột biến với nhau, nuôi cấy trên môi trường có chứa cả 4 chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của E.Coli. Lúc này cả 2 dòng đột biến, nhờ có chất dinh dưỡng, đều phát triển bình thường. Sau đó, dùng kĩ thuật phân tách từng vi khuẩn đơn lẻ ra, ông tiếp tục quan sát xem chúng có thể tồn tại tiếp được không. Thật bất ngờ, một số trong chúng vẫn tồn tại và phát triển. Điều đó cho thấy, các E.Coli này đã có đủ bộ genes cần thiết, để có thể tạo ra enzymes tổng hợp các chất dinh dưỡng. Tới đâu câu hỏi đặt ra là? Lí do vì sao từ một mutant bacteria lại trở thành một normal bacteria? – Câu trả lời là vi khuẩn đột biến dòng này đã truyền các gene cần thiết sang vi khuẩn đột biến dòng kia, khi cả 2 được ở chung với nhau.

Bacterial conjugation

Bacterial conjugation

Nghĩa là một vi khuẩn đột biến đã cung cấp bản sao gene của nó cho vi khuẩn khác, giúp vi khuẩn nhận có đẩy đủ bộ gene. Tuy nhiên, tỉ lệ xảy ra khá thấp, 1/10,000,000 vi khuẩn được nuôi cấy. Quá trình trao đổi gene này được Lederberg đặt tên là tiếp hợp ([bacterial] conjugation). Sau này, William Hayes đã kết luận rằng conjugation chỉ xảy ra giữa các vi khuẩn khác  giới tính: (+) và (-). (+) bacteria có nhân tố sinh sản (F+) mà (-) bacteria không thể có (F-). Cụ thể, một cầu nối (gọi là pilus) từ (+) bacteria sang (-) bacteria giúp cho F factor di chuyển từ vi khuẩn (+) sang vi khuẩn (-). F+ bacteria đóng vài trò là người cho (donor), và F- bacteria sau khi nhận F-factor cũng trở thành donor, hay nói cách khác là trở thành F+ bacteria.

F-factor (A) independent, (B) integrated

F-factor (A) independent, (B) integrated

F-factor là một phân tử extra-chromosomal DNA, có thể tồn tại ở dạng tự do, hoặc tích hợp vào trong DNA (chromosomal DNA). Dù ở trạng thái nào, nó vẫn có vai trò như nhau. F-factor là một loại thuộc plasmid, nên còn có tên là F-plasmid. Trên F-plasmid, có hai vị trí (locus, Latin = place) gọi là tratrab chứa khoảng 40 genes; trong đó tra locus có chứa gene pilin và một số gene điều khiển giúp tạo ra pilus cho vi khuẩn; và tạo ra một số genes khác cần thiết cho quá trình bacterial conjugation.

Khi F-factor ở dạng tích hợp, mỗi khi nó được truyền từ bacteria này sang bacteria khác, chromosomal DNA cũng sẽ được truyền theo. Tuy nhiên, tuỳ vào thời gian của cầu nối pilus mà một phần, hay toàn bộ chromosomal DNA có thể được truyền. Thời gian để truyền hết bộ chromosomal DNA của vi khuẩn là 100 phút. Và phần chromosomal DNA truyền đi sẽ kết hợp với chromosomal DNA của bacteria mới, thông qua quá trình gọi là recombination. Quá trình này xảy ra khá thường xuyên (high frequency) với vi khuẩn có integrated F-factor, cho nên vi khuẩn có integrated F-factor còn được gọi là Hfr (High frequency).

Bacteriophage

Nhà khoa học Alfred Hershey, lại nghiên cứu di truyền trên virus mà chỉ nhằm tấn công và lây nhiễm vi khuẩn. Các virus này đưọc gọi là bacteriophage, hay phage. Mục đích của việc lây nhiễm là phage dùng bộ máy của vi khuẩn để giúp nó sinh sản. Phage có một lớp vỏ bọc bằng protein và chứa bên trong là thông tin di truyền (DNA). Phage muốn sinh sản phải dựa vào cơ chế sinh sản của vi khuẩn. Phage dùng các chân của mình để bám vào vi khuẩn; sau đó, DNA của phage sẽ được đưa vào vật chủ vi khuẩn và sử dụng các enzyme của vi khuẩn để nhân đôi DNA của phage. Khi số lượng phage bên trong vật chủ đủ lớn, nó sẽ phá vỡ vật chủ vi khuẩn để thoát ra ngoài.

Để kiểm tra phage đưa DNA của nó vào bacteria, hay cụ thể DNA là nơi lưu trữ thông tin di truyền, Hershley và Martha Chase đã tiến hành thí nghiệm. Từ thực nghiệm, DNA có hàm lượng nguyên tố phospho (P) cao; trong khi protein có hàm lượng nguyên tố lưu huỳnh (sulfur – S) cao. Vì thế, họ đã dùng các nguyên tố đánh dấu phóng xạ (P32 và S35) – radioactive label (hay radioactive tracer) – để đánh nhãn protein và DNA của phage. Các đánh nhãn đồng vị phóng xạ giúp phát hiện vị trị của các phân tử mà nó liên kết vào. Từ đó, có thể biết là thành phần nào lây nhiễm vào trong vi khuẩn. Cụ thể, họ cho 2 mẫu vi khuẩn để thí nghiệm song song, mỗi mẫu cho một loại đồng vị vào. Sau khi cho phage vào mỗi mẫu và đợi cho phage bám vào bacteria đủ lâu, họ dùng máy ly tâm lắc nhằm phân tách vi khuẩn và phage. Vì vi khuẩn nặng hơn, nó sẽ lắng xuống đáy, còn phage ở trên.

Phage và Bacteria sau khi phân li, tại mỗi mẫu

Phage và Bacteria sau khi phân li, tại mỗi mẫu

Xem xét với ống nghiệm có S35, Hershley thấy S35 nằm chung với phage, bên trong vi khuẩn không có S35. Vì thế, protein, không được dùng bên trong vi khuẩn để tạo ra các bản sao con của phage. Khi xem xét với mẫu còn lại, P32 nằm cả với bacteria và phage mới tạo ra. Vì thế, có thể kết luận phage DNA đã xâm nhập vào vi khuẩn; phage DNA chứa mọi thông tin giúp vi khuẩn bị lây nhiễm có thể tạo ra phage mới. Một lần nữa, (phage) DNA lại được chứng thực là chứa thông tin di truyền, chứ không phải là protein.

E.Coli bị vây quanh bởi T4 bacteriophage

TERM:

  • cell (Latin, cella = “a small room”): tế bào, thuật ngữ được đặt bởi Robert Hooke
  • eukaryote (eu=true, karyon=nucleus): cell with true nucleus
  • prokaryote (pro=pre, ….): cell without a nucleus
  • nucleus: nhân tế bào, được phát hiện lần đầu tiên bởi nhà thực vật học Robert Brown (1773-1858), và cũng là người đặt tên thuật ngữ.
  • plasmid (hay còn gọi là vectors – thuật ngữ trong kĩ thuật di truyền): là một phân tử extra-chromosomal DNA, tồn tại tách biệt với chromosomal DNA. Thông thường nó là hình tròn, và chuỗi kép (double strand). Plasmid, trong tự nhiên, thường chỉ thấy trong vi khuẩn. Kích thước nó dao động khá lớn (1-1000kpb). Mỗi cell (bacteria) có thể có một hay nhiều loại plasmid, số lượng mỗi loại cũng dao động nhiều. Thuật ngữ do Joshua Lederberg đặt (1952).
  • F factor (fertility factor – nhân tổ sinh sản, hay F-plasmid, sex factor): là nhân tố quyết định khả năng tạo thành sex pilus, đóng vai trò thiết yếu cho conjugation. Nó thực ra là một đoạn DNA có thể tồn tại độc lập trong cytoplasm của vi khuẩn hoặc kết hợp với DNA của vi khuẩn thông qua cơ chế recombination (sẽ đề cập ở 1 bài riêng).
  • DNA của vi khuẩn sau khi có thêm F+ factor gọi là recombined DNA.
  • [sex] pilus (Latin, “hair”, pl. pili): kích thước 6-7nm, là phần đối có dạng như sợi tóc gắn với bề mặt một số vi khuẩn. Nó xác định tính đực (+) của vi khuẩn. Chỉ những vi khuẩn có F-factor (hay F-plasmid, fertility factor) mới có pilus
  • [bacterial] conjugation: là quá trình sinh sản hữu tính của vi khuẩn, cụ thể là quá trình trao đổi thông tin di truyền qua cầu nối pilus.

SUMMARY:

Vi khuẩn cũng có DNA, nguyên liệu di truyền. Phage sinh sản bằng cách lây nhiễm vào host bacteria. Bacteria có thể sinh sản vô tính hay hữu tính, tuỳ vào cá thể có chứa F-plasmid hay không.

Tham khảo:

  1. http://www.biology.arizona.edu/Cell_BIO/tutorials/pev/main.html
  2. http://www.nature.com/ncb/journal/v1/n1/full/ncb0599_E13.html
  3. http://www.bio.miami.edu/~cmallery/150/unity/cell.text.htm
  4. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/15522508 (Multicellular life cycle of magnetotactic prokaryotes.)
  5. http://www.hhmi.org/biointeractive/animations/conjugation/conj_text3.htm (xem Demo về conjugation)
  6. http://www.lanesville.k12.in.us/LCSYellowpages/Tickit/Carl/bacteria.html

Written by vietnamen

Tháng Bảy 7, 2008 at 11:12 chiều

Liệu pháp mới: Chống ung thư bằng tế bào bạch cầu?

leave a comment »

Một liệu pháp chống ung thư có hiệu quả 100% trên chuột đang được các chuyên gia trường ĐH Wake Forest, Bắc Carolina, Hoa Kỳ, chuẩn bị thử nghiệm lâm sàng trên con người.

Khối ung thư thanh quản.
(Ảnh: VNN)

Sau những thử nghiệm thành công trên chuột và trên tế bào ung thư của người trong phòng thí nghiệm, “liệu pháp truyền bạch cầu” (Leukocyte InFusion Therapy – LIFT) của TS. Zheng Cui và các cộng sự đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép thử nghiệm trên 22 bệnh nhân mắc các bệnh ung thư khác nhau.

Liệu pháp này sử dụng tế bào bạch cầu để tấn công vào khối u và tiêu diệt tế bào ung thư. Những tế bào bạch cầu đó sẽ được cho bởi những người tình nguyện có hệ miễn dịch sản xuất được bạch cầu hạt (granulocyte) có hoạt tính chống ung thư cao.

Theo các chuyên gia, bạch cầu hạt là loại tế bào có thể chiếm đến 60% trong tổng số tế bào bạch cầu ở người khỏe mạnh. Bạch cầu hạt sẽ được lấy riêng ra để sử dụng bằng phương pháp tách các thành phần của máu (apheresis), nên người cho bạch cầu sẽ không bị mất những thành phần khác của máu.

Nhóm nghiên cứu cho biết các thử nghiệm vừa qua trên chuột bị ung thư đã đạt tỉ lệ thành công là 100%. TS. Zheng Cui nói: “Ở chuột, chúng tôi đã có thể tiêu diệt được tế bào ung thư, thậm chí cả những khối u ác tính có kích thước lớn. Chúng tôi hy vọng kết quả tương tự sẽ xảy ra khi thử nghiệm trên người”.

Nhóm nghiên cứu đang chuẩn bị tuyển chọn 500 người tình nguyện từ 50 tuổi trở xuống có sức khỏe tốt để xét nghiệm máu. Trong số này, sẽ chọn ra 100 người có bạch cầu mạnh nhất để tham gia cuộc thử nghiệm sắp tới.

Yếu tố then chốt để liệu pháp này thành công là truyền cho bệnh nhân đủ lượng bạch cầu hạt có khả năng giết chết tế bào ung thư ở mức cao nhất. Theo TS. Cui, “liệu pháp này khác với các liệu pháp sử dụng bạch cầu thông thường ở chỗ người cho bạch cầu được chọn trên cơ sở bạch cầu của họ có hoạt tính mạnh đối với ung thư”.

Giáo sư bệnh lý học Mark Willingham, thành viên nhóm nghiên cứu, phát biểu: “Đây là kết quả của gần 10 năm nghiên cứu kể từ khi chuột kháng ung thư lần đầu tiên được khám phá vào năm 1999. Nếu cuộc thử nghiệm sắp tới thành công, LIFT sẽ trở thành một loại vũ khí mới để chống ung thư”.

TS. Zheng Cui nói: “Dù chưa thể đoán trước điều gì sẽ xảy ra, nhưng chúng tôi hy vọng liệu pháp này sẽ chữa được một số bệnh ung thư và cứu được một số người trong vài tháng tới”.

  • Trúc Thịnh (Theo Science Daily, US News)

VietNamNet: http://vietnamnet.vn/khoahoc/2008/07/791579/

Written by vietnamen

Tháng Bảy 2, 2008 at 3:58 chiều

Posted in Ung thư

Tagged with