Vietnamen’s Weblog

Time, Chances, Diligence, Intelligence: which is the most important?

Archive for the ‘Giáo dục Việt Nam’ Category

Ngành GD có thể làm gì để cứu vãn nhân cách Việt?

leave a comment »

Hôm nay mình đọc một bài viết khá thẳng thắn của Võ Thị Hảo. Quả là vẫn có VNNet là tờ báo đáng tin cậy. Vnexpress là thằng lá cải chuyên nghiệp.

Mời các bạn cùng đọc

Tự nhiên cho ra lò những  công dân chính trực và hồn nhiên, thấy nóng thì biết bảo rằng nóng và ngược lại – đó là trách nhiệm và những điều ngành giáo dục có thể làm mà không tốn kém và không phải chờ đợi ai.


Ra đường gặp giả trá

Nếu tôi khôn ngoan, trước khi viết về sự giả dối, tôi cần phải rào đón khoảng mươi dòng, rằng về cơ bản nhân dân Việt Nam ta luôn trung thực thật thà dũng cảm, rằng nhân dân ta luôn có truyền thống trọng chữ tín. Rằng được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp nói chung và lãnh đạo ngành tư tưởng văn hóa nói riêng, người Việt Nam ta hiện nay và ngành giáo dục đang có nhiều tiến bộ và gặt hái được nhiều thành tựu. Rằng người Việt Nam đi đâu cũng có uy tín trên trường quốc tế và luôn luôn dược nể trọng là một dân tộc anh hùng…

Vâng. Phản xạ rào đón, dù chỉ là rào đón để làm đà thôi,  để báo chí có thể đăng nổi, hoặc để tung ra một lời nói thẳng, vẫn là một phản xạ gắn liền với sự giả trá.

Ngành giáo dục cần đi tiên phong trong việc chối bỏ thói quen viết đại tự “giả trá” trên  tâm hồn những trẻ em bắt đầu gia nhập cộng đồng. Ảnh: VNE

Khốn khổ thay! Tại sao chúng ta phải rào đón đủ điều trước khi nói thật? Tại sao nói thật là điều “ghê răng” đến thế? Tại sao trước mỗi lời phát biểu, từ một học trò tiểu học miệng còn hơi sữa đến một người lãnh đạo một cơ quan đơn vị, địa phương cũng cứ phải leo lẻo một đoạn dài lê thê cảm ơn ngành nọ cấp kia dù trong lòng biết thừa rằng chẳng có gì phải cảm ơn cả. Vì họ đã ăn lương ngân sách thì  dù là ai cũng phải làm tròn trách nhiệm và không làm tròn trách nhiệm chính là tội lỗi.

Tại vì chúng ta nói một đằng làm một nẻo quen rồi.

Tại sao con người ta cứ phải “khôn ngoan”? Tại sao đa phần con người Việt Nam hiện nay mất đi cái sự hồn nhiên tối thiểu của mọi sinh vật: thấy nóng phải biết kêu rằng nóng, thấy lạnh thì nói rằng lạnh?!

Để được yên thân, rất nhiều người trong chúng ta đều phải giả vờ hoặc phải lờ đi. Để cầu an hoặc cầu lợi, nhiều khi chúng ta thấy nóng thì bảo lạnh. Hoặc vờ không biết rằng nóng.

Như thế, là con người đã từ bỏ sự chính trực. Quyền được hồn nhiên và được chính trực, đó là quyền đương nhiên của muôn loài – trong đó, trẻ con chưa đi học mẫu giáo, và từ loài  bò sát trở lên, còn giữ lại được cho mình.

Có ai, bỗng một ngày nghĩ lại mà giật mình, rằng người chính trực, người thật thà hiện nay khó sống lắm không?!

Cứ nhìn thầy giáo Khoa thì biết. Thầy Khoa đã làm những việc tối thiểu mà một con người có tự trọng phải làm. Thầy phản ứng và chống lại sự  giả trá trong thi cử, cái được gọi bằng một mỹ từ nhẹ nhàng là “bệnh thành tích” tại một ngôi trường nhỏ ở Hà Tây.

Thế mà, thầy bị trù dập, bị trả thù hết lần này lượt khác. Không những bản thân mà đến vợ con cũng khốn đốn.

Sự trả thù của những người bị ảnh hưởng quyền lợi do phản ứng chính trực của thầy Khoa đã là điều trái pháp luật, cần bị trừng trị, nhưng còn có thể hiểu được. Nhưng điều hết sức đáng buồn, là chính cộng đồng xung quanh thầy, không có quyền lợi liên quan, đa phần cũng  xa lánh, miệt thị, coi thầy là người kỳ dị, rách việc, rồi gán cho thầy bao nhiều tội tình. Rồi không có chứng cứ gì để mạt sát thầy về hành vi hay nhân cách thì họ quy cho là thái độ kiêu căng!

Trong cuộc sống, hiện tượng cộng đồng đối xử với những người như thầy Khoa không hiếm. Trong nhiều cơ quan đơn vị, người trung thực dám làm chứng cho sự thật, không cam tâm a dua dối trá theo cường quyền, thay vì được đồng nghiệp, bạn bè ủng hộ, thì bị xa lánh và những kẻ ghen ghét thừa cơ bịa đặt vu cáo tung tin thất thiệt.

Kẻ xấu luôn được dung dưỡng bằng một môi trường có quá nhiều người luôn muốn nghe những điều xấu về người khác, luôn tiếp tay cho sự vu cáo. Quá nhiều người thích nói xấu  người khác, sợ sự thật như dơi sợ ánh ngày và mong người khác thất bại, là để tự an ủi mình.

Ra đường, chúng ta luôn bị tổn thương vì sự giả trá

Kìa xem cái người bán xăng cho chúng ta. Dù thế nào thì họ vẫn ăn bớt của ta. Và nếu  ta cự nự, thì họ lập tức nổi khùng. Họ độc quyền. Những người bán hàng cho ta cũng vậy. Chín mươi chín phần trăn cân dối. Ta không mua của họ thì biết mua của ai?

Mỗi mét vuông mặt đường chứa đựng sự dối trá. Vì số tiền người làm đường lấy từ công quỹ thường lớn gấp ba lần số tiền thực chi cho đường. Những mặt đường ngày càng co hẹp lại, để tiền vào túi cá nhân qua các cử chỉ thụt két và hối lộ để được nhận dự án. Những công trình xây dựng, những bệnh viện, những hàng rởm. Những khoản tiền cứu trợ, những chương trình vì người nghèo bị xà xẻo….

Những nhà máy gian dối để thải chất độc ra sông giết cộng đồng và môi trường. Những người làm hoa quả, làm nước mắm, làm sữa… dùng độc chất để tăng sự bóng bẩy và chỉ số giả về chất dinh dưỡng, không cần biết đến việc mình đang hãm hại mọi người.

Những huân huy chương thật được trao cho những thành tích giả sau những cuộc chạy chọt… Những lời nói giả ngày ngày được phóng đại trên loa truyền thanh và các phương tiện thông tin đại chúng.

Và trên các giảng đường, những kiến thức lạc hậu, cũng chính là nững kiến thức giả được tung ra, làm mất thì giờ và thui chột nhiều thế hệ trẻ. Những giáo trình giả rồi những điểm số giả… không thể kể hết.

Những sự giả ấy, còn tiếp tục làm mục ruỗng nhân cách người Việt Nam.

Chúng ta có thể tiếp tục tồn tại khoẻ mạnh với một cái nền nhân cách đã mục ruỗng không? Tương lai nào đang chờ đợi? Khi mà không một người nào trên đất Việt Nam này, nếu trung thực với chính mình có thể nói rằng tôi đã không từng một lần giả trá.

Người viết bài này cũng từng giả trá, khi trên chiếc băng ca là bố mình, và nhiều lần trước kia là mẹ mình, đang đợi chờ trước phòng cấp cứu của bệnh viện. Khi những nhân viên của bệnh viện thờ ơ trước cái chết cận kề của người thân, nếu không có tiền được dúi vào tay họ. Khi những y tá sẽ đâm mũi kim rất thô bạo vào cánh tay gầy của mẹ mình. Khi đến một người quét dọn của bệnh viện cũng có thể kiếm cớ xẵng giọng và quát nạt, nếu ta  không biết ý mà dúi tiền lót tay cho họ!

Và như thế, tôi đã giả trá, không chỉ một lần, khi tôi dúi tiền  lót tay cho họ, dù biết rằng thế là không tốt. Tôi đã và sẽ còn phải đưa. Bất cứ ai cũng vậy, nếu tôi không muốn người thân của mình chết tức tưởi vì sự bỏ mặc đến trở thành độc ác của những người đang được trả lương bằng những đồng tiền thuế của chúng ta và họ có trách nhiệm phải làm tròn nhiệm vụ.

Nhưng rất nhiều người đã, đang và còn sẽ tiếp tục độc ác, vì họ nắm vận mệnh của những người rơi vào hoàn cảnh phải lệ thuộc họ.

 

Ngành giáo dục có thể làm nhiều điều để chống lại sự giả trá mà không tốn kém và không phải chờ đợi ai. Ảnh: chuvanan-yenbai.edu.vn

Ai đã “đầu têu” giả trá?

Sẽ chẳng có ai nhận đâu. Rồi ai cũng sẽ nói rằng tôi rất thật thà, lương thiện.

Nhưng nói dối phải có nguồn gốc. Chỉ có những người đi trước mới có thể dạy cho trẻ con và kẻ đi sau biết nói dối. Bản thân trẻ con mới sinh ra và chưa một ngày gia nhập cộng đồng và bắt chước tập tính của cộng đồng thì không biết nói dối.

Có ngôi nhà nào có thể xây được trên nền móng là một đầm lầy?

Sự giả trá trở thành thường nhật, thành đương nhiên. Sự chính trực trở thành lạc lõng. Người chính trực khó sống. Cộng đồng trở nên hư hoại nếu không dám phản đối cái xấu và ủng hộ sự lương thiện. Đó chính là thảm họa khủng khiếp, lâu dài,  chính là cái đầm lầy khổng lồ sẽ chôn vùi chúng ta.

Để tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, có rất nhiều nhưng  một trong những điều thấy nhỡn tiền, chính là ở nhiều người có trách nhiệm. Rất nhiều quan chức đã nói một đằng làm một nẻo. Của cải tài sản của họ do tham nhũng mà có. Họ lên chức không phải do tài năng mà do mối quan hệ và chạy chọt và chiều lòng cấp trên. Họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào khi địa bàn hoặc lĩnh vực họ phụ trách trì trệ, để xẩy ra những hậu quả nghiêm trọng.

Và ngành giáo dục, trong khung cảnh đó, không thể không bị ảnh hưởng, đã góp phần không nhỏ trong việc chiều lòng một số  ngưười có vị trí trong xã hội, vén tay áo tô đậm thêm cái đại tự “giả trá” trên những tờ giấy trắng đầu đời.

Ngành giáo dục có thể bắt đầu, nhhưng… ?

Vì căn bệnh “thành thích”, vì sự giả dối – mà Phó Thủ tướng  Nguyễn Thịên Nhân đã nói trong Thư gửi ngành giáo dục vào ngày 20/11/2008.

Thực ra, bệnh thành tích vẫn là một mỹ từ. Chỉ có một từ để gọi cái được gọi là bệnh thành tích – đó là sự giả trá, trong tất cả các ngành, không chỉ trong ngành giáo dục. Nói chỉ riêng ngành giáo dục là oan. Nhưng, để bắt đầu xây dựng lại nhân cách Việt,  lại phải bắt đầu từ nhiều thứ, trong đó ngành giáo dục có thể làm được nhiều điều.

Đi tiên phong trong việc chối bỏ thói quen viết đại tự “giả trá” trên tâm hồn những trẻ em bắt đầu gia nhập cộng đồng. Tự nhiên cho ra lò những  công dân chính trực và hồn nhiên, thấy nóng thì biết bảo rằng nóng và ngược lại – đó là trách nhiệm và những điều mà ngành giáo dục có thể làm mà không tốn kém và không phải chờ đợi ai.

Vì Việt Nam, hơn bao giờ hết, đang cần những công dân không cam chịu cái xấu. Nhhững công dân cần những kiến  thức cập nhật chứ không phải kiến thức từ những giáo trình giả trá chỉ để thầy cô giáo và một số cá nhân có quyền lực trong ngàng tính điểm với cấp trên để được yên thân hoặc để được thăng tiến.

Cần  tạo ra một phong trào và tạo thành lề thói sâu rộng trong xã hội rằng con người cần nhìn lại mình và chống sự giả trá trên mọi lĩnh vực,  trong toàn xã hội. Cần thức tỉnh con người lấy lại bản ngã đầu tiên mà tạo hoá đã ban cho muôn loài.

Để thoát khỏi những đầm lầy.

Võ Thị Hảo

http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/5507/index.aspx

Written by vietnamen

Tháng Mười Hai 6, 2008 at 10:43 chiều

‘60% tiến sỹ Mỹ không hơn tiến sỹ Việt Nam’ – Một nhận định có cẩu thả???

leave a comment »

Sau đây là bài viết của bạn Nguyễn Đa Linh nào đó làm tiến sĩ về Kinh tế bên Mỹ. Liệu nhận định của bạn Linh dựa trên cơ sở gì không, chúng ta hãy nhận xét.

Nguyễn Đa Linh, nghiên cứu sinh Kinh tế tại Mỹ  tham gia ý kiến về Giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu và phát triển.

60% tiến sỹ Mỹ chất lượng cũng không hơn gì tiến sỹ Việt Nam?

a
Ảnh: Lê Anh Dũng

Nghiên cứu và phát triển đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia để tạo ra sản phẩm/dịch vụ mới và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế.

Về chất lượng nghiên cứu, rất nhiều ý kiến yêu cầu công trình nghiên cứu (bao gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng), đặc biệt là công trình của các nghiên cứu sinh trong nước phải được đăng trên các tạp chí quốc tế. 

Tuy nhiên, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa nhu cầu về chất lượng công trình nghiên cứunhu cầu về số lượng tiến sỹ. Theo ước tính của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020, Việt Nam cần đào tạo mới hai vạn tiến sỹ, (đa phần được đào tạo trong nước), để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nền kinh tế.

Nếu áp đặt một tiêu chuẩn gay gắt về chất lượng thì sẽ không thể đáp ứng đủ số lượng. Bởi lẽ (i) hai vạn là một con số rất lớn (Từ 1954 đến nay, cả nước ta mới có khoảng một vạn tiến sỹ); (ii) số người đăng ký học tiến sỹ sẽ giảm đi rất nhiều; (iii) cần số tiền đầu tư cực lớn để có số lượng bài báo quốc tế tương ứng.

Trên thực tế, ngay ở các nước phát triển, đào tạo tiến sỹ chủ yếu để phục vụ công tác giảng dạy và tham gia vào các hoạt động ở khu vực công nghiệp, để đảm nhận các công việc không đòi hỏi những nghiên cứu chất lượng cao. Chỉ một phần trong số đó sẽ trở thành các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp.

Ở Mỹ, mỗi ngành khoa học có khoảng 500 trường có đào tạo hệ Tiến sỹ, nhưng chỉ khoảng 200 trong số đó yêu cầu luận văn nghiên cứu đạt chất lượng tầm cỡ quốc tế. Có nghĩa là khoảng 60% tiến sỹ Mỹ chất lượng cũng không hơn gì tiến sỹ Việt Nam. Ngay trong số 200 trường đầu tiên này, không phải các tiến sỹ ra trường đều có bài đăng tạp chí quốc tế. 

Điển hình như ngành kinh tế, mặc dù Mỹ chiếm đa số các giải Nobel kinh tế và trong số 50 trường đại học hàng đầu về kinh tế, có đến 35 trường của Mỹ, nhưng nhiều sinh viên của các trường top 35 này cho đến khi nhận bằng tốt nghiệp cũng chưa có bài báo nào trên các tạp chí uy tín (Các tạp chí ít uy tín thì tôi không dám bình luận bởi vì chất lượng cũng vô cùng).

Hầu hết công trình của nghiên cứu sinh tốt nghiệp từ 200 trường hàng đầu mới chỉ là tài liệu lưu hành trên Internet và đạt tiêu chuẩn cấp trường.

Tuy nhiên, dù chưa được chấp nhận xuất bản tại các tạp chí uy tín, các công trình cấp trường này cũng rất hữu ích, đóng góp không nhỏ vào các công trình sâu sắc và quy mô hơn của những người kế tiếp. (Đây chỉ là những kinh nghiệm về ngành kinh tế mà tôi biết. Việc xuất bản ở một số ngành khác có thể dễ dàng hơn).

Một quốc gia chưa có trường đại học nào nằm trong top 500 của thế giới, đầu tư cho nghiên cứu  thấp như Việt Nam, mà đòi hỏi chất lượng tiến sỹ quốc tế đại trà là điều bất hợp lý.

Chính vì vậy, chỉ nên yêu cầu bắt buộc chất lượng quốc tế đối với: (i) các công trình nghiên cứu được đầu tư thoả đáng hoặc (ii) để bổ nhiệm các chức danh đặc biệt (trưởng khoa, phòng, bộ môn, phó giáo sư, giáo sư.v.v…).

Việc xác định thế nào là đầu tư thoả đáng tuỳ thuộc vào từng đề án cụ thể. Những nghiên cứu ngoài ngân sách Nhà nước, hoặc với đầu tư thấp như đào tạo tiến sỹ trong nước hiện nay chỉ nên khuyến khích xuất bản quốc tế, chứ không thể ép buộc.

8 đề xuất

1. Chương trình quốc gia về Nghiên cứu và Phát triển khoa học cần đề ra các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn dựa trên tiêu chuẩn Chỉ số quốc gia về ISI (Institute for Scientific Information). 

2. Quản lý số công trình chất lượng quốc tế theo cơ quanđề tài nghiên cứu chứ không theo cá nhân làm nghiên cứu.

Ví dụ, hàng năm mỗi khoa/phòng ở các viện/trường/trung tâm nghiên cứu cần đăng ký số lượng xuất bản quốc tế theo kỳ hạn; ngắn hạn (trong vòng 1 năm) và trung hạn (2-5 năm). Số đăng ký này có thể hiệu chỉnh theo từng năm để phù hợp với tình hình thực tế. Nhà nước dựa trên cơ sở đó để phân bổ ngân sách.

Ngay cả trong trường hợp ngân sách không đủ, các cơ sở nghiên cứu lớn vẫn cần tự trang trải để thực hiện những yêu cầu tối thiểu về số công trình chất lượng quốc tế do bộ chủ quản quy định.

Ngược lại, các bộ chủ quản cần nhanh chóng xây dựng những chỉ tiêu tối thiểu về số xuất bản quốc tế này. Chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu bằng ngân sách cũng cần cam kết chất lượng của sản phẩm nghiên cứu theo tiêu chuẩn quốc tế. 

3. Đầu tư xây mới hoặc chỉ định một số khoa/phòng trở thành trung tâm nghiên cứu trọng điểm. Ở các khoa/phòng này, có thể yêu cầu chất lượng quốc tế đối với hầu hết các công trình nghiên cứu.

4. Nghiên cứu sinh trong nước hợp tác nghiên cứu với các trường/viện nước ngoài hoặc đăng ký tốt nghiệp với xuất bản quốc tế, cần được ưu tiên xét hỗ trợ một phần kinh phí.

5. Xây dựng tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo khoa, trường/viện/trung tâm, phó giáo sư, giáo sư… dựa trên số xuất bản quốc tế. Khuyến khích tuyển dụng những người có công trình chất lượng quốc tế vào các viện/trường/trung tâm nghiên cứu.

6. Loại bỏ yêu cầu học vị tiến sỹ ở các vị trí lãnh đạo không cần những hiểu biết sâu về chuyên môn.

7. Thư viện quốc gia và thư viện của các viện khoa học cần đăng ký tài khoản với các tạp chí trực tuyến chuyên ngành quan trọng trên thế giới với sự tham vấn của các chuyên gia từng ngành.

8. Thành lập Phòng Giám định chất lượng các công trình nghiên cứuCục Xúc tiến nghiên cứu, đổi mới & phát triển khoa học công nghệ.

Chi tiết về mục cuối cùng như sau:

Phòng Giám định chất lượng các công trình nghiên cứu

Đây là một mô hình phòng đăng ký thuộc Cục Sở hữu Công nghiệp, Bộ KHCN (hoặc Bộ GD&ĐT) nhằm giúp các nhà nghiên cứu khẳng định “thương hiệu quốc tế” của mình ngay tại Việt Nam, đồng thời giúp Nhà nước dễ dàng quản lý. Các cá nhân, tập thể có nhu cầu giám định chất lượng công trình nghiên cứu sẽ phải trả một khoản lệ phí đăng ký, nộp bản sao công trình dưới dạng điện tử, đường link tới tạp chí quốc tế hoặc một ấn phẩm gốc. Ấn bản điện tử và tên tạp chí quốc tế sẽ được công khai trên Internet để những người quan tâm dễ dàng kiểm tra, bình luận về chất lượng tạp chí. Sau khi các chuyên viên của phòng thẩm định khoảng 6-12 tháng, nếu không có những khiếu kiện đặc biệt, công trình sẽ chính thức được cấp giấy chứng nhận giám định. Chuyên gia của các ngành sẽ giúp phòng xây dựng danh mục phân hạng các tạp chí quốc tế. Các công trình nghiên cứu cấp trường ở các trường đại học uy tín quốc tế cũng được đăng ký ở đây.

Phòng cũng là nơi quản lý các bản đăng ký số công trình chất lượng quốc tế ngắn và dài hạn từ các cơ sở nghiên cứu. 

Trên cơ sở đó có thể rút ra một ngân hàng dữ liệu các nhà nghiên cứu có công trình quốc tế. Điều này sẽ góp phần tách bạch các nhà nghiên cứu thực với các nhà nghiên cứu trên danh nghĩa. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng các tiến sỹ Việt Nam tốt nghiệp ở các trường đại học uy tín ở nước ngoài cũng sẽ vui vẻ đăng ký chứng nhận chất lượng các công trình của mình, một khi họ muốn trở về làm việc tại Việt Nam.

Cục Xúc tiến nghiên cứu, đổi mới & phát triển khoa học công nghệ

Cục xúc tiến này nhằm hỗ trợ tạo ra thị trường các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ. Việc hỗ trợ có thể bao gồm: tìm kiếm nguồn vốn ngoài ngân sách, tìm đối tác nghiên cứu phát triển, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, tư vấn luật sở hữu trí tuệ, hội thảo, khảo sát và thăm quan, đầu tư triển vọng vào các SMEs, thành lập phòng thí nghiệm v.v… 

Mặc dù đã có một vài tổ chức có hoạt động hỗ trợ NC&PT nhưng chưa có một cơ quan tầm cỡ quốc gia nào chuyên trách về vấn đề này. Cục Xúc tiến NCĐM&PT KHCN cần độc lập với các trung tâm xúc tiến thương mại đang tồn tại để chuyên môn hoá hoạt động do đặc thù của các sản phẩm/dịch vụ kỹ thuật và công nghệ cao. Theo một nghiên cứu năm 2002 của tôi về Phát triển Thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam, một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho tiến độ phát triển TMĐT kém xa so với mục tiêu do Đề án quốc gia về TMĐT đề ra là việc giao cho Bộ Thương mại thực hiện đề án này. Các cán bộ thực hiện đề án thiếu những nền tảng cần thiết về công nghệ cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực thi. Bởi vậy, Cục Xúc tiến NCĐM&PT KHCN nên bao gồm những cán bộ có nền tảng đại học về kỹ thuật và công nghệ, đồng thời có năng khiếu về marketing và sau đó sẽ được đào tạo bổ xung về quản lý và marketing.

  • Nguyễn Đa Linh

Xem phản hồi gốc: http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/01/763848/

Written by vietnamen

Tháng Một 15, 2008 at 6:11 sáng

VEF – “Đường về Tổ quốc”

leave a comment »

(VietNamNet)Hội nghị thường niên lần thứ 5 của các nghiên cứu sinh và học giả Quỹ Giáo dục VN (VEF) vừa bế mạc ngày 6/1/2008 sau 4 ngày hoạt động sôi nổi.

Các nghiên cứu sinh và học giả VEF tại Hoa Kỳ. Ảnh: VEF
Các nghiên cứu sinh và học giả VEF tại Hoa Kỳ. Ảnh: VEF

Với chủ đề “Đường về Tổ quốc”, Hội nghị năm nay nhằm khuyến khíchtạo động lực cho các nghiên cứu sinh và học giả VEF trở về làm việc tại VN cũng như tạo cầu nối hợp tác với các tổ chức học thuật ở VN trong tương lai.GS.TS Võ Văn Tới, GĐ điều hành VEF khẳng định: “Thông qua các các nghiên cứu sinh và học giả VEF, cộng đồng học thuật tại Hoa Kỳ sẽ nhìn các ứng viên của VN với sự tin tưởng và coi đó là những ví dụ về chất lượng, cống hiến và thành công và vì lợi ích chung. Chúng tôi tự hào rằng VN không những khuyến khích và hỗ trợ các ứng viên học tập tại nước ngoài mà còn có những bước chuẩn bị và chào đón để họ quay trở lại VN.”Cũng tại Hội nghị lần này, VEF đã kêu gọi cộng đồng trí thức Hoa Kỳ và các nghiên cứu sinh, học giả VEF chia sẻ tri thức vào kho học liệu mở VN (VOCW) vừa ra mắt. VEF cũng ủng hộ VN xây dựng những trung tâm khoa học và công nghệ cao như Viện Nghiên cứu Phát triển.Sau lễ bế mạc Hội Nghiên cứu sinh và Học giả VEF (VEFFA) đã tổng kết các hoạt động trong năm 2009 và bầu ban đại diện mới. Trong năm tới, VEFFA sẽ tiếp tục phát triển dự án Quyên góp sách cho VN (Vietnam Book Drive) đã rất thành công trong năm qua và tham gia đẩy mạnh phát triển chương trình học liệu mở VN.

  • Lan Hương

http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/01/763001/

Written by vietnamen

Tháng Một 14, 2008 at 2:26 sáng

3 trò không làm xong tiến sĩ, cho thầy nghỉ 5 năm

leave a comment »

(VietNamNet) – Bỏ thi đầu vào và thay thế bằng hình thức phỏng vấn. Mỗi luận án phải có một bài báo đăng ở tạp chí uy tín nước ngoài. Mỗi suất làm tiến sĩ trong nước được hưởng tối thiểu 120 triệu đồng. Công khai danh mục các cán bộ khoa học có đủ khả năng hướng dẫn nghiên cứu sinh (NCS). Thầy hướng dẫn 3 nghiên cứu sinh mà không làm xong luận án thì cho dừng 5 năm.

Đây là những biện pháp mà Bộ GD-ĐT dự kiến thực hiện để chấn chỉnh công tác đào tạo tiến sĩ. Dưới đây là những thông tin mà Phó Vụ trưởng Vụ ĐH&Sau ĐH (Bộ GD-ĐT), Nguyễn Thị Lê Hương trao đổi với VietNamNet.

4 ngành không cần bài đăng trên tạp chí nước ngoài 

Bà Nguyễn Thị Lê Hương
Bà Nguyễn Thị Lê Hương

 – Thưa bà, Quy chế đào tạo tiến sĩ mới sắp tới sẽ có những thay đổi gì nổi bật?

Trong dự thảo Quy chế đào tạo tiến sĩ mới có nhiều điểm thay đổi khá cơ bản và sâu sắc, đáp ứng nguyên lý chung là nâng cao đánh giá đầu ra, đặc biệt quan tâm đến chất lượng luận án “ra lò”.

Cụ thể, mỗi luận án phải có ít nhất 1 bài báo đăng ở các tạp chí uy tín nước ngoài. Chỉ 4 ngành (Mỹ thuật, An Ninh, Quốc phòng và Khoa học Chính trị) không yêu cầu có bài đăng trên tạp chí quốc tế nhưng phải có nhiều bài được đăng tải trên các tạp chí trong nước. 

Đây là yêu cầu bắt buộc,có tính đột phá để nâng chất lượng luận án. Vấn đề này, cũng có nhiều ý kiến trái chiều nhưng tôi xin nói thêm là ở những tạp chí nước ngoài, họ có một chuẩn mực về hội đồng biên tập và phản biện. Còn các tạp chí ở Việt Nam, nhất là ngành khoa học xã hội và kinh tế, thường là cơ quan ngôn luận của một hội hoặc tổ chức nào đó, chứ không hẳn là một tạp chí khoa học nên nhiều khi chức năng phản biện rất hạn chế.

Điểm mới nữa là sẽ không còn tổ chức thi tuyển các môn chuyên ngành và ngoại ngữ “đầu vào” như trước. Vì thực tế, khi thi không thấy có ai trượt. Số người trượt chuyên môn cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khi đưa ra quy định mới này, chúng tôi đã khảo sát và nhận thấy chỉ cần xét qua nghiên cứu và phỏng vấn, hoàn toàn có thể đánh giá được năng lực của từng NCS.

Cùng với đó, ngân sách dành cho 1 NCS trong nước tối thiểu từ 110 triệu – 120 triệu đồng. Ngoài ra, sẽ có từ 3 – 6 tháng thực tập về lĩnh vực nghiên cứu ở nước ngoài. Chính sách này chỉ áp dụng cho những giảng viên làm luận án tiến sĩ. Đối với sinh viên làm NCS, nếu có cam kết sau khi tốt nghiệp sẽ về làm giảng viên các trường ĐH, cũng sẽ được thụ hưởng như vậy.

ĐH sẽ tự đặt quy chế

– Chuyển từ thi tuyển sang hình thức phỏng vấn, nhiều lo ngại rằng sẽ định tính nhiều hơn nên sẽ khó cho kết quả khách quan?

Việc làm luận án tiến sỹ gắn với trách nhiệm của người hướng dẫn. Trong quy chế mới, chúng tôi quy định rất chặt chẽ trách nhiệm của người hướng dẫn. Cụ thể: Các cơ sở đào tạo phải công khai danh sách cán bộ khoa học đủ năng lực hướng dẫn NCS và danh mục hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu… để NCS có thể chọn người hướng dẫn.

Nếu 2 NCS không hoàn thành luận án, thầy hướng dẫn phải tạm dừng để giải trình lý do. Nếu thêm NCS thứ 3 không hoàn thành luận án, thì thầy sẽ bị dừng hướng dẫn đến 5 năm.

– Thông thường, quy định ngay từ đầu không chặt sẽ là “kẽ hở” để lách đã từng xảy ra. Vậy tại sao đã xóa bỏ hình thức đào tạo không tập trung, lại còn xem xét “đặc cách” cho một số trường hợp?

Việc xem xét chỉ được thực hiện với những trường hợp là người của cơ sở đào tạo tiến sĩ. Do vậy, nếu không lên lớp học thì họ vẫn có mặt ở cơ sở…

Tới đây, sẽ không còn hình thức đào tạo tiến sĩ không tập trung mà buộc người học phải học tập trung. Chỉ một số trường hợp như người của cơ sở đào tạo tiến sĩ được xem xét học không tập trung. Lâu nay, việc đào tạo tiến sĩ không chất cũng một phần do 100% các cơ sở đào tạo không tập trung. 

– Với 100% các cơ sở chuyển sang tập trung như vậy thì có đủ nguồn giảng viên hay không và cơ sở vật chất đầu tư cho đào tạo sẽ có những biến đổi thế nào? Đặc biệt là điều kiện phòng ốc trang bị cho NCS làm nghiên cứu?  

Quy chế quy định rõ: Khi đào tạo tập trung, đội ngũ giảng viên phải đảm bảo tỷ lệ bao nhiêu, điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng ra sao… Một cơ sở có “tuổi đời” 30 năm không thể đặt vấn đề là không đủ điều kiện đáp ứng.

Mặt khác, các cơ sở tới đây sẽ được toàn quyền quyết định từ việc đào tạo đến cấp bằng. Do vậy, các cơ sở phải có chỗ làm việc cho NCS, tổ chức sinh hoạt, xêmina, lịch định kỳ tiếp NCS, kiểm soát toàn bộ quá trình hoạt động đào tạo

Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi cũng đã có khảo sát. Thực tế, nhiều cơ sở chưa có chỗ làm việc cho NCS mà thường bố trí ngồi cùng phòng với bộ môn. Do vậy, quy chế ban hành sẽ là quy định khung bắt buộc. Căn cứ vào đó, các cơ sở đào tạo tiến sĩ xây dựng cho mình quy chế phù hợp nhưng không được thấp hơn quy định khung do Bộ GD-ĐT ban hành. Lâu nay, các trường chưa có quy chế riêng nên việc thực hiện thường bị động. Nên để các trường tự đặt ra cho mình những quy định đào tạo phù hợp sẽ tạo được những cách triển khai mới, nâng cao chất lượng đào tạo.

Công khai danh mục nghiên cứu và thầy hướng dẫn

Trưng bày thành tựu đào tạo sau ĐH tại hội nghị tổng kết 30 b��c đào tạo này. Ảnh: Lê Anh Dũng
Trưng bày thành tựu đào tạo sau ĐH tại hội nghị tổng kết 30 bậc đào tạo này. Ảnh: Lê Anh Dũng

– Cũng không ít ý kiến cho rằng, vì nội dung đào tạo tiến sĩ của Việt Nam chỉ như “chương trình đào tạo cử nhân thu nhỏ” đã dẫn đến những hệ lụy rằng: NCS chẳng cần lên lớp, nghiên cứu chuyên môn… nhưng vẫn bảo vệ thành công luận án…

Chương trình đào tạo tiến sĩ tới đây sẽ được bổ sung một số môn học trình độ tiến sĩ. Đây vừa là thay đổi nhưng cũng là thách thức đối với các cơ sở đào tạo. Trong tuyển đầu vào, yêu cầu ngoại ngữ đối với NCS được nâng cao hơn đủ để tham khảo tài liệu. Tiếng Anh phải đạt điểm TOEFL 450 điểm.

Nói là chương trình cử nhân thu nhỏ không đúng. Bởi, chương trình đào tạo do các trường chủ động, nếu chưa đáp ứng nhu cầu là do cơ sở chưa đủ năng lực để xây dựng các chuyên đề, xêmina… Ở một số nước có tên tuổi trong đào tạo tiến sĩ thì chương trình học bao giờ cũng có một số môn học thêm. Do vậy, trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, người hướng dẫn… sẽ được quy định cụ thể để dần khắc phục những hạn chế trong đào tạo hiện nay.

– Trong đổi mới công tác đào tạo tiến sĩ tới đây, bà có đề cập đến việc công khai danh mục các cán bộ khoa học có đủ khả năng hướng dẫn NCS. Hình thức này sẽ được thực hiện thế nào?

Sẽ công khai trước mỗi kỳ tuyển sinh 3 tháng. Với đào tạo tiến sĩ mỗi năm có 2 đợt chiêu sinh vào cuối tháng 2 và tháng 8. Như vậy, đợt cuối tháng 2 thì những thông tin liên quan đến NCS sẽ công bố tháng 11; và đợt tháng 8 sẽ công bố vào tháng 5 trên trang web của Bộ GD-ĐT.

Thông tin công bố sẽ bao gồm: Danh mục các hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu hoặc đề tài nghiên cứu kèm theo danh sách các nhà khoa học có thể nhận hướng dẫn NCS, số lượng NCS có thể tiếp nhận ở từng hướng nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu…

Với những thông tin như vậy, NCS có thể lên web để chọn người hướng dẫn phù hợp.

Dự kiến, quy chế đào tạo tiến sĩ sẽ được ban hành tháng 1/2008. Thời gian cho các cơ sở xây dựng quy chế đào tạo từ 1-1,5 năm. Đến ngày 30/6/2009, các cơ sở đào tạo phải hoàn thành việc xây dựng chương trình tuyển sinh và tổ chức giảng dạy bổ sung các môn học theo chương trình mới cho NCS.

– Cảm ơn bà!

  • Kiều Oanh (thực hiện)

 http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/01/763357/

Written by vietnamen

Tháng Một 13, 2008 at 5:39 sáng

Đào tạo tiến sĩ: Chất lượng phụ thuộc vào người hướng dẫn?

leave a comment »

(VietNamNet) – Nâng cao chất lượng đào tạo nói chung cũng như nâng cao chất lượng đào tạo TS nói riêng cần được thực hiện đồng bộ ở các khâu, các ngành và các cấp. Việc viết báo có trọng lượng khoa học và uy tín để được đăng phụ thuộc nhiều vào người hướng dẫn. Thế nhưng các GS và PGS  hiện nay còn nhiều người yếu về ngoại ngữ và hình như còn thiếu “bài báo quốc tế”.

s

Tại hội nghị hiệu trưởng tháng 8/2006, Hiệu trưởng trường ĐH Đà Nẵng Bùi Văn Ga bức xúc: “Ở các nước, người ta tập trung đào tạo 3 năm ròng rã còn chưa được, trong khi ở ta chỉ đào tạo theo bán thời gian thì làm sao có chất lượng?”. (Ảnh: Hải Châu)

 

Xu thế chung là hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới đều qui định có bài báo đối với NCS, nên để theo kịp, chúng ta phải làm chặt khâu này. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên giới hạn ở một số tạp chí hoặc ở một mức nào đó (thông thường các tạp chí có thang điểm chuẩn riêng) để phù hợp với Việt Nam. Tôi chắc chắn nếu qui định này được áp dụng thì có đến quá nửa NCS hiện tại không đáp ứng được nhu cầu này, tuy nhiên Bộ GD đã mạnh tay với kì thi THPT thì đây cũng chính là phần tiếp theo của việc chống bệnh thành tích và tiêu cực.

 

Tôi đồng ý với một số ý kiến  về việc khó khăn khi viết và đăng trên tạp chí thế giới, tuy nhiên, nếu khó mà không làm thì chúng ta sẽ không bao giờ đi lên được. Về vấn đề này tôi xin có mấy ý kiến như sau:

 

Việc viết báo có trọng lượng khoa học và uy tín để được đăng phụ thuộc nhiều vào người hướng dẫn.

 Hiện nay, các GS và PGS của Việt Nam còn nhiều người yếu về ngoại ngữ và trình độ cũng như còn thiếu các bài báo quốc tế… Thực tế nhìn lại, cách phong học hàm PGS và GS nước ta chẳng giống ai cả, các công trình khoa học không được phân theo thang chuẩn, đánh đồng cả tạp chí thế giới bằng với tạp chí của một trường hoặc một cơ quan nào đó của Việt Nam. Dẫn đến việc nhiều tiến sỹ học ở nước ngoài về có nhiều công trình đăng trên các tạp chí uy tín thì lại không được phong học hàm vì trẻ quá. Vì vậy nên thế giới ít biết đến GS hay PGS của nước ta, nếu không tin, các bạn đưa danh mục PGS và GS nước ta lên mạng search xem có công trình nào? Chính vì vậy, Hội đồng phong GS Nhà nước cần có những thay đổi để phù hợp với xu thế của thế giới. Nếu không chúng ta lại vừa đá bóng vừa thổi còi.

 

Chi phí cho NCS trong nước hiện còn thấp, đặc biệt những hỗ trợ cho NCS đi học, tôi biết rất nhiều cơ quan trong nước của Việt Nam cử cán bộ trẻ đi học NCS chỉ với hỗ trợ lương 1 triệu đồng / tháng để sinh hoạt và học tập tại các thành phố lớn. Chúng ta đau lòng khi thấy hiện trạng này. Nếu như có những may mắn, chúng ta có những TS kiểu này bảo vệ luận án  có chất lượng thì cũng ốm yếu về thể xác mà thôi. Tôi nghĩ Bộ GD nên điều tra vấn đề này thật kỹ để kết hợp với các bộ, ngành khác cùng tìm cách giải quyết nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho NCS trong nước để họ sống được và chuyên tâm vào công tác nghiên cứu (đặc biệt là cán bộ trẻ). Hiện trạng hiện nay là rất nhiều NCS chọn phương thức đào tạo không tập trung để tranh thủ kiếm sống, hoặc lại chân trong chân ngoài. Đó cũng chính là lý do khiến công trình của NCS Việt Nam có hàm lượng khoa học thấp.

 

Nên đặt một chuẩn mực ngoại ngữ với NCS trước khi bảo vệ. Chuẩn mực ở đây là chuẩn quốc tế, ví dụ như tiếng Anh là TOEFL… Tất nhiên, chúng ta cũng nên xem xét với từng ngành cụ thể. Chúng ta đảm bảo rằng, TS trong nước sau khi tốt nghiệp sẽ vẫn có thể hướng dẫn NCS và viết bài báo quốc tế.

http://vietnamnet.vn/bandocviet/2008/01/763786/

Written by vietnamen

Tháng Một 13, 2008 at 5:28 sáng